TRANG CHỦ   Hôm nay: 09/09/2010
Trang Chủ
Giới Thiệu
Cơ Cấu Hành Chính
Tổ Chức Đảng
Tin Bắc Trà My
Cây Quế Trà My
Tin Thời sự - Xã Hội
Văn bản Pháp quy
Tin Học
Văn hóa - Văn nghệ
Âm nhạc
Dịch vụ Hành chính công
Thủ tục hành chính
Đồng hương Trà My
Hành chính "Một cửa"
Điều hành công việc
Huyện Đoàn Bắc Trà My

ĐĂNG NHẬP

Tên

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu

Quên mật khẩu
Hỗ trợ trực tuyến


Ban Biên tập


Văn phòng


Bảo hiểm xã hội

 


Hành chính "một cửa"

 


Tài chính - Kế hoạch


Đất đai


Nội vụ


Tư pháp


Thanh tra


Quản lý đô thị


Thống kê

Có 11 khách đang online
Đề cương tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
15:18 24/03/2009
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Ở Việt Nam, Luật Hôn nhân và Gia đình đã được ban hành năm 1959 áp dụng ở miền Bắc XHCN, sau ngày hòa bình lập lại đã được Quốc hội sửa lại và thay thế từ năm 1986. Trải qua 15 năm thực hiện, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế ở nước ta, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp, do vậy ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 đã sửa đổi, thay thế Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 bằng Luật Hôn nhân và Gia đình 2000. Luật có 13 chương 110 điều và có hiệu lực từ ngày 01/01/2001. Để Luật Hôn nhân và Gia đình được thực hiện tốt, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X cũng đã thông qua Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.


Để phục vụ cho đợt tuyên truyền phổ biến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Phòng Tuyên truyền Sở Tư pháp biên soạn Đề cương tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000) phục vụ cho các báo cáo viên pháp luật TP, quận huyện nghiên cứu trong khi tuyên truyền đạo luật quan trọng này.

I. Những quy định chung:
1. Nhiệm vụ và đối tượng điều chỉnh:
So với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình (HN-GĐ) năm 2000 có quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ:
- Góp phần xây dựng và hoàn thiện chế độ HN-GĐ tiến bộ.
- Xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình.
- Bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.
- Kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
- Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Đối tượng điều chỉnh của Luật HN-GĐ: Quy định chế độ hôn nhân gia và đình, trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.
2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:
Luật NH-GĐ 1986 không quy định rõ các nguyên tắc trong chế độ hôn nhân và gia đình, còn Luật HN-GĐ 2000 quy định rõ: có 6 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, cụ thể:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
- Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
3. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:
Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật HN-GĐ 2000 quy định rõ một số điều cấm và các nguyên tắc xử lý khi có các hành vi vi phạm pháp luật về HN-GĐ. Vấn đề này so với luật cũ có nhiều điểm mới, cụ thể:
- Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
- Cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn (mới)
- Cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo (mới);
- Cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi (mới);
- Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ (ý có gạch dưới là mới. Khi phân tích ý này cần viện dẫn thêm điều 147 BLHS 1999 quy định về tội “vi phạm chế độ một vợ một chồng”);
- Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị em và các thành viên khác trong gia đình (mới).
Để thực hiện các điều cấm trên, Luật HN-GĐ quy định rõ nguyên tắc xử lý: kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật khi có hành vi vi phạm. Đồng thời, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có biện pháp ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm chế độ HN-GĐ.

II. Kết hôn:
1. Điều kiện kết hôn và những trường hợp cấm kết hôn:
- Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
- Người đang có vợ hoặc có chồng;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời (cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba);
- Giữa những người cùng giới tính (mới);
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (mới);
(Lưu ý: luật không cấm việc kết hôn giữa anh em nuôi, chị dâu với em chồng hoặc em dâu với anh chồng).
2. Đăng ký kết hôn:
- Việc kết hôn phải được thực hiện tại: UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn. Nếu công dân Việt Nam đang ở nước ngoài thì đăng ký tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt nam ở nước ngoài nơi họ đang cư trú.
- Nghi thức kết hôn: khi tổ chức đăng ký kết hôn thì phải có mặt 2 bên nam nữ kết hôn, Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu 2 bên cho biết ý kiến tự nguyện kết hôn, nếu 2 bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao giấy chứng nhận kết hôn cho 2 bên (2 bản chính theo NĐ 83/CP).
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định trên đều không có giá trị pháp lý:
- Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.
- Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Thực tế hiện nay có nhiều cặp vợ chồng tuy biết quy định của Luật HN-GĐ những vẫn không đăng ký kết hôn mà vẫn sống chung với nhau, có con, có tài sản chung… việc giải quyết hậu quả này Nghị quyết 35/NQ-QH10 có quy định như sau:
+ Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ trước ngày 03/1/1987 (ngày Luật HN-GĐ 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn (ĐKHK) thì được khuyến khích ĐKHK; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về lý hôn của Luật HN-GĐ năm 2000.
+ Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật HN-GĐ 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn thì có nghĩa vụ ĐKKH trong thời hạn 2 năm (kể từ 01/01/2001 đến 01/01/2003). Trong thời hạn này mà họ không ĐKHK nhưng có yêu cầu ly hồn thì toán án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật HN-GĐ năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không ĐKHK thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
+ Kể từ ngày 01/01/2002 trở đi, trừ những trường hợp nêu trên, nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không ĐKHK đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
+ Nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án THỤ LÝ VÀ TUYÊN BỐ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG, nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết như sau:
+ Quyền lợi của con cái được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.
+ Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung đượcc hia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa ansgiair quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên, ưu tiên bảo về quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.
3. Quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật:
- Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật;
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:
+ Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;
+ ủyban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủyviệc kết hôn trái pháp luật.
Khi có quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật của Tòa án thì cơ quan ĐKKH xóa ĐKHK trong sổ ĐKHK.

III. Quan hệ giữa vợ và chồng:
1. Về tình nghĩa vợ chồng và các quyền của vợ chồng:
Vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
Nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.
Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau; cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người.
2. Về ủy quyền và đại diện cho nhau giữa vợ, chồng:
- Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.
- Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện.
- Vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
3. Tài sản chung của vợ chồng:
Vấn đề này trong luật NH-GĐ 1986 quy định rất chung chung. Nay trên cơ sở quy định của BLDS 1995 luật HN-GĐ 2000 quy định khá cụ thể và tỉ mỉ từ Điều 27 đến Điều 33:
a) Nguồn tài sản chung:
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
- Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
- Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
b) Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung:
- Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh.
c) Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:
- Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.
- Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
d) Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng:
- Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của BLDS.
- Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
- Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời gian nhất định; nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng:
a) Nguồn tài sản riêng:
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân.
- Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
b) Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng:
- Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.
- Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủyquyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.
- Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
- Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.
- Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.

IV. Quan hệ giữa cha mẹ và con:
Về mối quan hệ giữa cha, mẹ và con, Luật HN-GĐ 1986 quy định tại chương 5. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con ở quy định này bị bó hẹp trong phạm vi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con; nay Luật hôn nhân quy định quan hệ giữa cha, mẹ và con nên đã đưa vào luật thêm một số vấn đề mới phát sinh trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con như vấn đề đại diện, bồi thường, tài sản.v.v. Chương này có một số nội dung cụ thể sau:
1. Về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ:
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi dục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
- Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con.
- Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.
- Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 34, 36 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
2. Nghĩa vụ và quyền của con với cha mẹ:
- Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.
- Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật;
- Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
- Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình.
- Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác.
- Con từ đủ 15 tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý.
- Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên.
- Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.
3. Quyền đại diện của cha mẹ:
- Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.
- Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của BLDS.
4. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Tòa án có thể xem xét quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm.
Người và cơ quan có quyền yêu cầu Tòa án:
- Cha, mẹ, người thân thích của con chưa thành niên có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên
- Trong trường hợp một trong hai người là cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế một số quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.
- Trong trường hợp cha mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ.
- Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
5. Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình:
- Ông bà với cháu, anh chị em với các thành viên trong gia đình đều có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, thương yêu giúp đỡ nhau, cùng đóng góp công sức, tiền, tài sản để duy trì đời sống chung của gia đình.

V. cấp dưỡng:
So với Luật HN-GĐ năm 1986 thì vấn đề cấp dưỡng trong Luật HN-GĐ năm 2000 là một vấn đề hoàn Tòan mới. Vấn dề này được đặt ra và đưa vào quy dịnh của luật là phù hợp với những biến đổi của xã hội tác động sâu sắc vào mối quan hệ gia đình. Trong BLHS 1999, vấn đề cấp dưỡng cũng đã được đưa vào luật (Điều 152: “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” có mức phạt tù cao nhất đến 2 năm).
Việc cấp dưỡng được Luật HN-GĐ năm 2000 quy định khá chặt chẽ, đầy đủ chi tiết tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thêm bền chặt và mang đậm đà bản sắc truyền thống của gia đình Việt nam. Nội dung của chương trình này gồm các vấn đề cơ bản sau:
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
- Trong trường hợp một người cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng phải thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập và khả năng tực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án quyết định.
- Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này cũng phải thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:
- Người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòan án buộc người không tư nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Việm kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện phải tự thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Ủy ban bản về chăm sóc trẻ em, Hội LHPN có quyền đề nghị Tòa án và Viện kiểm sát yều cầu Tòa án buộc những người không tự nguyện phải tự thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng trong một số trường hợp cụ thể:
- Khi ly hôn, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình.
Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình.
- Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.
- Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
4. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng:
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cá bên được chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động;
- Người được cấp dưỡng có thu nhập hoặc tài sản để tự nuôi mình;
- Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
- Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
- Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
- Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

VI. Xác định cha, mẹ, con:
1. Xác định cha mẹ (trích):
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án quyết định.
Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Và ngược lại.
2. Quyền nhận cha, mẹ:
- Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
- Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha.
- Cha mẹ hoặc người giám hộ tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sực hoặc xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
- Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sực hoặc xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
- Các cư quan như Ủy ban bảo về và chăm sóc trẻ em, Hội LHPN cũng có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị Viện kiểm sát xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự. Đối với quyền này thì các cá nhân, cơ quan khác cũng có quyền yêu cầu Viện kiểm sát xem xét đề nghị Tòa án xác định như trên.

VII. Vấn đề nuôi con và vấn đề giám hộ:
1. Ý nghĩa và điều kiện:
- Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận là con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con
Điều kiện được nhận làm con nuôi:
- Người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống. Trường hợp trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn.
- Một người có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi.
- Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng.
Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
- Có tư cách đạo đức tốt;
- Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
- Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi dục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Về thủ tục pháp lý:
Việc nhận con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ để của người đó. Nếu cha mẹ đẻ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha mẹ thì phải được sự đồng ý của người giám hộ.
Việc nhận con nuôi phải được đăng ký tại xã, phường, thị trấn và ghi vào sổ hộ tịch.
Trong trường hợp một bên hoặc các bên không đủ các điều kiện nhận nuôi con hoặc làm con nuôi thì cơ quan đăng ký việc nuôi con từ chối đăng ký và giải thích rõ bằng văn bản.
3. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi:
- Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.
Con liệt sỹ, con thương binh, con của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của con liệt sỹ, con thương binh, con của người có công với cách mạng.
- Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó. Việc xác định dân tộc của con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật dân sự.
4. Chấm dứt việc nuôi con nuôi:
Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Tòa án quyết định trong các trường hợp sau đây:
- Cha mẹ nuôi và con nuôi đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;
- Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi hoặc ngược lại.
5. Người có quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi:
Điều 77. Người có quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Khi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì các cá nhân và cơ quan sau đây có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định chấm dứt:
+ Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.
+ Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi.
+ Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em và Hội Liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đề nghị Viện kiểm sát.
6. Hậu quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi:
- Khi chấm dứt quan hệ nuôi con theo quyết định của Tòa án thì các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con cũng chấm dứt. Trong trường hơp con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản thì Tòa án quyết định giao người đó cho cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng.
Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó, nếu con nuôi có đóng góp chung vào tài sản của cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ tài sản chung đó theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.
Khi quan hệ con nuôi chấm dứt, cha mẹ đẻ có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định lấy lại họ tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.
7. Vấn đề giám hộ:
- Trong trường hợp cha mẹ cùng giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì họ đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
- Cha, mẹ có thể thỏa thuận với nhau về việc giám hộ trong những trường hợp cha mẹ còn sống chung nhưng không có điều kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
- Trong trường hợp anh, chị, em ruột cần được giám hộ thì anh, chị, em đã thành niên có năng lực hành vi dân sự thỏa thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ.
- Khi quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân, tài sản của em chưa thành niên thì anh, chị là người giám hộ của em phải tham khảo ý kiến của những người thân thích và ý kiến của em, nếu em từ đủ 9 tuổi trở lên.
- Trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà ông bà nội, ông bà ngoại có đủ điều kiện làm người giám hộ thì những người này thỏa thuận cử một bên làm người giám hộ.

VIII. Ly hôn:
Về ly hôn, Luật HN-GĐ 1986 quy định 6 điều, nay Luật HN-GĐ 2000 quy định 15 điều chi tiết và cụ thể. Trong bản dự thảo có đặt ra vấn đề ly thân trước khi ly hôn, nhưng do vấn đề này khá phức tạp nên Quốc hội đã không đưa vấn đề ly thân vào trong luật mới. Nội dung cơ bản của chương này gồm những vấn đề sau đây:
1. Quyền yêu cầu việc ly hôn và căn cứ cho ly hôn:
- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
- Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.
- Trước khi ly hôn, nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Căn cứ cho ly hôn là: xét thấy tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
- Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
2. Ly hôn thuận tình hoặc theo yêu cầu của một bên:
- Thuận tình ly hôn là trường hợp cả 2 vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn tại Tòa án. Trong trường hợp Tòa án hòa giải không thành nhưng xét thấy sự tự nguyện ly hôn của 2 bên cũng như có sự thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con. Trong trường hợp không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định.
- Ly hôn theo yêu cầu của một bên là việc ly hôn do một bên yêu cầu mà hòa giải tại Tòa án không thành; trường hợp này thì Tòa án xem xét giải quyết việc ly hôn.
3. Vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:
- Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Vợ, chồng thỏa thuận về việc nuôi con; nếu không có thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định. Người không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu có con đã 9 tuổi trở lên thì phải xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
- Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Vấn đề chia tài sản khi ly hôn:
- Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
- Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
+ Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
+ Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
- Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.
- Việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng được thực hiện theo nguyên tắc:
+ Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
- Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủysản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.
+ Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủysản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định trên.
+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia như chia tài sản chung
+ Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo Luật đất đai và BLDS.
+ Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.
+ Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

IX. Vấn đề kết hôn với người nước ngoài:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài quy định thành một chương có 6 điều trong Luật HN-GĐ 2000, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
Thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài do UBND cấp tỉnh giải quyết. các vấn đề tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài do TAND cấp tỉnh giải quyết.

Văn Thạnh (Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Quận Gò Vấp - Tp. Hồ Chí Minh).

TIN MỚI NHẤT
Thăm Dò Dư Luận
Bạn đánh giá website này là ....
Theo bạn, để Website này hoạt động hiệu quả, cần:

 

 vanbanqppl1.gif
 www.danangcity.vn.png
  itqn.gif
  39330416.gif
  logo_csm.png

(C) Bản quyền thuộc UBND huyện Bắc Trà My
     Lượt truy cập thứ:906665