TRANG CHỦ   Hôm nay: 06/09/2010
Trang Chủ
Giới Thiệu
Cơ Cấu Hành Chính
Tổ Chức Đảng
Tin Bắc Trà My
Cây Quế Trà My
Tin Thời sự - Xã Hội
Văn bản Pháp quy
Tin Học
Văn hóa - Văn nghệ
Âm nhạc
Dịch vụ Hành chính công
Thủ tục hành chính
Đồng hương Trà My
Hành chính "Một cửa"
Điều hành công việc
Huyện Đoàn Bắc Trà My

ĐĂNG NHẬP

Tên

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu

Quên mật khẩu
Hỗ trợ trực tuyến


Ban Biên tập


Văn phòng


Bảo hiểm xã hội

 


Hành chính "một cửa"

 


Tài chính - Kế hoạch


Đất đai


Nội vụ


Tư pháp


Thanh tra


Quản lý đô thị


Thống kê

Có 11 khách đang online
Đề cương giới thiệu Luật điện lực
10:03 30/11/2007

BỘ CÔNG NGHIỆP

VỤ PHÁP CHẾ

-----------

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

---------------------------

ĐỀ CƯƠNG

GIỚI THIỆU LUẬT ĐIỆN LỰC

I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT ĐIỆN LỰC

1. Điện năng là một loại hàng hoá đặc thù, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Việc phát triển điện năng cần đi trước một bước để góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Hoạt động điện lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống điện thống nhất nên mang tính độc quyền tự nhiên trong một phạm vi và trên một địa bàn nhất định, vì vậy cần có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước.

 2. Trong những năm qua, các hoạt động điện lực đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư thích đáng. Tổng sơ đồ phát triển điện lực (Quy hoạch phát triển Điện lực) các giai đoạn 1980 - 1985, 1986 - 1990, 1991 - 1995, 1996 - 2000, 2001 - 2005 đã và đang được thực hiện có kết quả. Công suất lắp đặt của nguồn điện đã tăng từ 31,5 MW năm 1955 lên đến trên 11.197 MW cuối năm 2004; lưới điện cao áp từ chỗ chỉ có 100 km đường dây 35 kV nối Hà Nội với Hải Phòng năm 1955, đến nay đã hình thành cả một hệ thống lưới điện từ 6 - 500 kV bao phủ đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước với 178. 015 km đường dây và 51. 655 MVA trạm biến áp. Năm 2004 đã đóng điện ĐZ 500 kV mạch 2 đoạn Phú Lâm - Pleiku và đoạn Pleiku - Dốc Sỏi – Đà Nẵng, ĐZ 220 kV Việt Trì - Sơn La... và nhiều công trình lưới điện 220, 110 kV khác. Năm 2004, điện sản xuất ước đạt 45,78 tỷ kWh, tăng 12,23% so với thực hiện 2003, điện thương phẩm đạt 39,51 tỷ kWh, tăng 13,18% so với thực hiện 2003.

Tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2004, 100% số huyện đã có điện, trong đó điện lưới quốc gia đã đưa đến 524/534 huyện đạt tỷ lệ 98,13% (còn 1 huyện trong đất liền và 9 huyện đảo sử dụng điện tại chỗ) và 8.498/9009 xã có điện đạt tỷ lệ 94,33%; đã có 11.400.612 hộ dân nông thôn có điện đạt tỷ lệ 87,39%. Như vậy, đến nay vẫn còn 511 xã chưa có điện, trong đó có 66 xã không có khả năng cấp điện từ lưới điện quốc gia cần phải giải quyết bằng các nguồn năng lượng tại chỗ như thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời, gió kết hợp với diesel.

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện của sản xuất và đời sống xã hội từ nay cho đến năm 2010, mỗi năm nước ta cần phải có khoảng 1,5 - 2 tỷ USD vốn đầu tư cho phát triển nguồn và lưới điện. Với chủ trương chuyển ngành điện sang hoạt động theo cơ chế thị trường và chính sách mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước, đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các hoạt động điện lực đã từng bước được thực hiện có kết quả.

3. Hơn 40 năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quản lý hoạt động điện lực và đầu tư phát triển hệ thống điện. Những văn bản quy phạm pháp luật này đã phần nào đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả trong đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh và sử dụng điện góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện, đảm bảo vận hành trang thiết bị điện an toàn, hiệu quả, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia hoạt động điện lực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động điện lực vẫn có những hạn chế sau:

 a) Chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển điện lực trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhiều nội dung không còn phù hợp với các mục tiêu phát triển, phương thức quản lý điều hành của ngành điện lực, chưa khuyến khích, thu hút được nhiều vốn đầu tư cho phát triển, chưa thúc đẩy việc cạnh tranh theo hướng hiệu quả, chưa giải quyết một cách thoả đáng mối quan hệ bình đẳng, minh bạch giữa bên sản xuất kinh doanh điện và bên tiêu thụ điện trong quá trình đổi mới, chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

  b) Chưa có sự đồng bộ, thống nhất, có tính pháp lý cao và chưa tạo được hành lang pháp lý để chuyển đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động của các đơn vị điện lực sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

  c) Các văn bản quy phạm pháp luật về điện lực hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập các hoạt động điện lực của nước ta với hoạt động điện lực của các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là trong khâu quản lý hoạt động phát điện, truyền tải điện và mua bán điện.

  d) Những quy định về quyền và nghĩa vụ của các đơn vị điện lực, của khách hàng sử dụng điện chưa rõ ràng; chưa xác định rõ trách nhiệm trong hoạt động mang tính công ích và hoạt động kinh doanh, nhất là chưa phù hợp với yêu cầu chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh điện sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

  đ) Chưa tạo được cơ sở pháp lý đồng bộ để thu hút và khuyến khích đầu tư phát triển nguồn, lưới điện nói chung, đặc biệt là đối với các hoạt động điện lực ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Các văn bản quy phạm pháp luật về điện lực chưa tạo được cơ sở pháp lý phù hợp với những đặc thù của đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh điện để thực hiện chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động điện lực.

Từ những lý do nêu trên, Luật Điện lực đã được Chính phủ chuẩn bị và đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.

Việc Quốc hội thông qua Luật Điện lực là sự thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng về phát triển điện lực, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực và sử dụng điện, tạo dựng khung pháp lý để hình thành thị trường điện lực cạnh tranh và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động điện lực và sử dụng điện.

II. CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐIỆN LỰC

 Luật Điện lực được xây dựng trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây :

1. Thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển điện lực, quản lý các hoạt động điện lực và sử dụng điện, khẳng định rõ vai trò của điện lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; khẳng định chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu và quản lý trong khâu phát điện, phân phối điện, bán buôn và bán lẻ điện, trừ hoạt động truyền tải điện và điều độ hệ thống điện quốc gia thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước; chuyển các hoạt động điện lực sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

2. Đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các hoạt động điện lực. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về điện lực và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh điện. Xác định cụ thể những nội dung quản lý nhà nước và những nội dung điều tiết hoạt động điện lực.

3. Tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị điện lực. Quy định rõ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong hoạt động điện lực, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các hoạt động điện lực, bảo đảm kết hợp hài hoà quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị điện lực, của khách hàng sử dụng điện và của Nhà nước. Quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của khách hàng sử dụng điện và của đơn vị điện lực. Quy định các giải pháp chống cửa quyền trong hoạt động điện lực và bảo đảm thúc đẩy sự phát triển ngành điện.

4. Đảm bảo sự phù hợp và thống nhất giữa Luật Điện lực và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; kế thừa có chọn lọc các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về hoạt động điện lực và sử dụng điện; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

   

III. BỐ CỤC, PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC

A. BỐ CỤC

Luật Điện lực gồm 10 Chương và 70 Điều:

Chương I. Những quy định chung có 7 điều từ Điều 1 đến Điều 7 quy định về: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; chính sách phát triển điện lực; giải thích từ ngữ dùng trong Luật Điện lực để thống nhất cách hiểu khi áp dụng luật trong các hoạt động điện lực, quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động điện lực và sử dụng điện.

Chương II. Quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực quốc gia có 5 điều từ Điều 8 đến Điều 12 quy định về các hoạt động quy hoạch phát triển điện lực, một số vấn đề trong đầu tư xây dựng các công trình điện lực, sử dụng đất để xây dựng các công trình điện lực.

Chương III. Tiết kiệm trong phát điện, truyền tải, phân phối và sử dụng điện có 4 điều từ Điều 13 đến Điều 16 quy định về chính sách và biện pháp khuyến khích thúc đẩy tiết kiệm điện, tiết kiệm trong phát điện, truyền tải, phân phối và sử dụng điện.

Chương IV. Thị trường điện lực: gồm 3 mục

 Mục 1: Nguyên tắc đối tượng, hình thức và nội dung hoạt động của thị trường điện lực có 5 điều từ điều 17 đến Điều 21 quy định về cạnh tranh trong các lĩnh vực phát điện, phân phối, bán buôn và bán lẻ điện; đối tượng tham gia thị trường điện lực cạnh tranh; mua bán điện trên thị trường điện lực cạnh tranh và các nguyên tắc hoạt động của thị trường điện lực cạnh tranh.

Mục 2: Mua bán điện và dịch vụ cung cấp điện theo hợp đồng có thời hạn có 7 điều từ Điều 22 đến Điều 28 quy định mối quan hệ giữa các bên mua bán điện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng mua, bán điện; chất lượng điện năng; thanh toán tiền điện; thiết bị đo đếm điện; cắt giảm điện và việc mua bán điện với nước ngoài.

Mục 3: Giá điện có 3 điều từ Điều 29 đến Điều 31 quy định về chính sách giá điện; căn cứ lập và điều chỉnh giá điện; giá điện và các loại phí.

Chương V. Giấy phép hoạt động điện lực có 7 điều từ Điều 32 đến Điều 38 quy định về: Thẩm quyền, nguyên tắc và thủ tục cấp giấy phép; điều kiện để được cấp giấy phép; hồ sơ đề nghị cấp giấy phép; nội dung và thời hạn của giấy phép; sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép; điều kiện miễn trừ giấy phép.

Chương VI. Quyền và nghĩa vụ của đơn vị điện lực và khách hàng sử dụng điện có 9 điều từ Điều 39 đến Điều 47 quy định về quyền, nghĩa vụ của từng đơn vị điện lực như phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện và bán lẻ điện; điều độ hệ thống điện quốc gia; tư vấn chuyên ngành điện lực; quyền và nghĩa vụ của khách hàng sử dụng điện.

Chương VII. Bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện có 12 điều từ Điều 48 đến Điều 59 quy định về: Trách nhiệm bảo vệ thiết bị và công trình điện lực; về hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp; về an toàn điện trong các lĩnh vực phát điện, truyền tải, phân phối, sử dụng điện trong sản xuất, sinh hoạt và sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp.

Chương VIII. Điện phục vụ nông thôn, miền núi, hải đảo có 5 điều từ Điều 60 đến Điều 64 quy định về các hoạt động đầu tư, quản lý, kinh doanh điện và một số chính sách ưu tiên thúc đẩy phát triển hoạt động điện lực ở các vùng nông thôn, miền núi và hải đảo, quy định về an toàn trong hoạt động điện lực và sử dụng điện ở khu vực này.

Chương IX. Quản lý nhà nước về hoạt động điện lực có 3 điều từ Điều 65 đến Điều 67 quy định về: Trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện; nội dung điều tiết hoạt động điện lực và tổ chức cơ quan điều tiết điện lực; Thanh tra điện lực.

Chương X. Điều khoản thi hành gồm có 3 điều từ Điều 65 đến Điều 67 quy định những vấn đề liên quan đến các tổ chức, cá nhân đang hoạt động điện lực và quy định về hiệu lực thi hành Luật Điện lực, hướng dẫn thi hành Luật Điện lực.

B. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC

    Luật Điện lực quy định về quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực; tiết kiệm điện; thị trường điện lực; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực và sử dụng điện; bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện.

C. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC

    Mọi tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực, sử dụng điện hoặc có các hoạt động khác có liên quan đến điện lực tại Việt nam đều phải thực hiện các quy định của Luật Điện lực. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC

    1. Quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực

    Quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực là một nội dung quan trọng của Luật Điện lực, nhằm tạo cho các hoạt động điện lực được đầu tư và phát triển hợp lý, thực hiện đúng chính sách phát triển điện lực được quy định tại Luật này.

- Quy hoạch phát triển điện lực bao gồm quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, quy hoạch phát triển điện lực địa phương. Quy hoạch phát triển điện lực phải độc lập, phê duyệt để làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư phát triển điện lực và đ­ược điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

- Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia độc lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia độc lập cho từng giai đoạn m­ời năm và có định hướng cho mỗi năm tiếp theo.

- Quy hoạch phát triển điện lực địa phương là quy hoạch phát triển điện lực tỉnh, thành phố trực thuộc trung ư­ơng, bao gồm cả quy hoạch phát triển điện lực huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    Quy hoạch phát triển điện lực địa phương độc lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và các quy hoạch khác có liên quan. Quy hoạch phát triển điện lực địa phương độc lập cho từng giai đoạn năm năm và có định hướng cho năm năm tiếp theo.

     Việc đầu tư phát triển điện lực phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực. Các dự án đầu tư chưa có trong quy hoạch phát triển điện lực chỉ được thực hiện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch cho phép. Chủ đầu tư dự án điện lực có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

     Luật điện lực quy định: Đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện có trách nhiệm đầu tư­ xây dựng trạm điện, công tơ và đường dây dẫn điện đến công tơ để bán điện.

     Tổ chức, cá nhân xây dựng mới hoặc cải tạo, mở rộng công trình điện lực phải sử dụng các thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại phù hợp với các quy phạm, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

     Bộ Công nghiệp, UBND cấp tỉnh công bố danh mục các dự án điện lực thu hút đầu tư trong từng thời kỳ và các dự án đầu tư đã được cấp phép.

     2. Tiết kiệm điện

Tiết kiệm là quốc sách không những chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tiết kiệm năng lượng nói chung và tiết kiệm điện nói riêng là vấn đề được rất nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm và có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về tiết kiệm điện trong Luật. Vì vậy, Luật Điện lực đã có một chương quy định về tiết kiệm điện (Chương III). Trong đó có những quy định về tiết kiệm trong hoạt động phát điện, truyền tải, phân phối và sử dụng điện. Việc tiết kiệm điện phải được quy định trong Luật là bởi vì điện năng là một hàng hàng hoá đặc thù, sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nên không thể có sự dự trữ được. Nếu không tiết kiệm sẽ dẫn đến tình trạng lưới điện quá tải, gây sự cố nghiêm trọng đến hệ thống điện quốc gia, ảnh hưởng đến chất lượng điện năng, có thể gây mất an toàn cho người và thiết bị sử dụng điện. Chỉ riêng việc tiết kiệm trong tiêu dùng điện đã giúp ngành điện tiết kiệm được số vốn đầu tư rất lớn tới hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm.

Luật Điện lực đã quy định cụ thể về vấn đề tiết kiệm điện, trong đó nêu rõ chính sách và biện pháp khuyến khích, thúc đẩy tiết kiệm điện trong phát điện, truyền tải, phân phối điện và tiết kiệm trong sử dụng điện. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích tiết kiệm điện bằng các chính sách sau đây:

- Khuyến khích sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu, áp dụng ưu đãi về thuế đối với sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm tiết kiệm điện và trang thiết bị, vật tư, dây chuyền công nghệ nhập khẩu để sản xuất sản phẩm tiết kiệm điện;

- Dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dự án đầu tư sản xuất các sản phẩm tiết kiệm điện hoặc dự án đầu tư nhằm mục đích tiết kiệm điện được vay vốn ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển và Quỹ phát triển khoa học và công nghệ;

- Dự án đầu tư phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng l­ợng mới và năng l­ợng tái tạo được hưởng ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Luật điện lực quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng các chương trình, dự án thúc đẩy sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả; bố trí kinh phí thích đáng cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ mục tiêu tiết kiệm điện.

3. Thị trường điện lực

Đây là vấn đề lớn, quan trọng của Luật Điện lực, quy định về nguyên tắc hoạt động, đối tượng tham gia thị trường điện lực, hoạt động, điều hành trên thị trường điện lực.

* Nguyên tắc hoạt động của thị trường điện lực:

- Bảo đảm công khai , bình đẳng, cạnh tranh vững mạnh, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường điện lực;

- Tôn trọng quyền được tự chọn đối tác và hình thức giao dịch của các đối tượng mua bán điện trên thị trường phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực;

- Nhà nước điều tiết hoạt động của thị trường điện lực nhằm bảo đảm hệ thống điện bền vững, đáp ứng yêu cầu cung cấp điện an toàn, hiệu quả.

* Thị trường điện lực được hình thành và phát triển theo các cấp độ sau đây

- Thị trường phát điện cạnh tranh

- Thị trường bán buôn điện cạnh tranh

- Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

 Thị trường phát điện cạnh tranh là cấp độ thứ nhất của thị trường điện lực, trong đó các đơn vị phát điện cạnh tranh bán điện trên hệ thống điện. Các đơn vị truyền tải được hưởng phí truyền tải theo quy định của Cơ quan điều tiết điện lực; các đơn bị bán buôn điện mua điện theo giá cạnh tranh trên thị trường để phân phối và bán điện theo biểu giá điện do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Thị trường bán buôn điện cạnh tranh là cấp độ tiếp theo của thị trường phát điện cạnh tranh, trong đó các đơn vị phân phối điện được hưởng phí phân phối theo quy định của Cơ quan điều tiết điện lực; các đơn bị bán buôn điện cạnh tranh trên thị trường để bán buôn điện cho các đơn vị bán lẻ điện; các đơn vị bán lẻ điện mua điện theo giá cạnh tranh trên thị trường để phân phối và bán điện theo biểu giá điện do Thủ tướng Chính phủ quy định.

* Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh là cấp độ phát triển tiếp theo của thị trường bán buôn điện cạnh tranh, trong đó khách hàng sử dụng điện được mua điện theo giá cạnh tranh trên thị trường. Thủ tướng Chính phủ quy định biểu giá bán lẻ điện.

Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình, các điều kiện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực.

*  Những đối tượng được mua bán điện trên thị trường điện lực bao gồm

- Đơn vị phát điện

- Đơn vị bán buôn điện

- Đơn vị bán lẻ điện

- Khách hàng sử dụng điện

Việc mua bán điện trên thị trường điện lực được thực hiện theo hai hình thức sau đây

- Mua bán thông qua hợp đồng có thời hạn giữa bên bán điện và bên mua điện

- Mua bán giao ngay giữa bên bán điện và bên mua điện thông qua đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực

Luật điện lực quy định đơn vị giao dịch thị trường điện lực chịu trách nhiệm điều hòa, phối hợp hoạt động giao dịch mua bán điện và dịch vụ phụ trợ trên thị trường điện lực

4. Mua bán điện và dịch vụ cung cấp điện theo hợp đồng có thời hạn

Đây là hình thức mua bán thông thường do bên mua và bên bán điện trực tiếp ký hợp đồng với nhau bằng văn bản. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng có thời hạn này được tiến hành theo quy định của pháp luật về hợp đồng. Tuy nhiên, do tính đặc thù của hàng hoá điện năng, nên Luật Điện lực đã quy định cụ thể các chế định về thanh toán tiền điện, đo đếm điện, kiểm định thiết bị đo đếm điện, bảo đảm chất lượng điện năng, ngừng giảm mức cung cấp điện, mua bán điện với nước ngoài.

Việc mua bán điện với nước ngoài đã được Luật Điện lực quy định cụ thể tại Điều 28 như sau:

- Việc mua bán điện với nước ngoài phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và đ­ọc ghi trong giấy phép hoạt động điện lực.

- Việc mua bán điện với nước ngoài thông qua hệ thống điện quốc gia phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

+ Không làm ảnh hưởng đến độ an toàn, tin cậy và tính ổn định trong vận hành hệ thống điện quốc gia;

+ Đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật, quy trình, quy phạm quản lý vận hành hệ thống điện quốc gia;

+ Không làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng sử dụng điện trong nước và an ninh năng lượng quốc gia.

- Khách hàng sử dụng điện ở khu vực biên giới được mua điện trực tiếp với nước ngoài không qua hệ thống điện quốc gia nhưng phải bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn điện và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

5. Giá điện

Giá điện luôn là vấn đề được quan tâm nhiều. Do vậy, Luật Điện lực đã quy định rõ về chính sách giá điện, giá điện và các loại phí.

Chính sách giá điện nhằm: tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển điện lực có lợi nhuận hợp lý; tiết kiệm tài nguyên năng lượng, sử dụng các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo không gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động điện lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở nông thôn, miền núi, hải đảo.

- Khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và có hiệu quả;

- Thực hiện cơ chế bù giá hợp lý giữa các nhóm khách hàng, giảm dần và tiến tới xoá bỏ việc bù chéo giữa giá điện sản xuất và giá điện sinh hoạt, góp phần thúc đẩy sản xuất và tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp;

- Bảo đảm quyền tự quyết định giá mua, bán điện trong khung giá, biểu giá điện do Nhà nước quy định của các đối tượng mua bán điện trên thị trường điện lực.

Giá điện được lập và điều chỉnh theo các căn cứ sau:

- Chính sách giá điện.

- Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thu nhập của người dân trong từng thời kỳ.

- Quan hệ cung cầu về điện.

- Các chi phí sản xuất, kinh doanh điện và lợi nhuận hợp lý của đơn vị điện lực.

- Cấp độ phát triển của thị trường điện lực.

6. Giấy phép hoạt động điện lực

Hoạt động điện lực là hoạt động có điều kiện. Mọi tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực phải có giấy phép hoạt động điện lực do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật Điện lực.

Luật Điện lực đã quy định rõ đối tượng và điều kiện được cấp, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động điện lực; hồ sơ đề nghị cấp, sửa đổi bổ sung giấy phép hoạt động điện lực; nội dung của giấy phép hoạt động điện lực; thẩm quyền và thời hạn cấp, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động điện lực; quy định các trường hợp bị thu hồi giấy phép hoạt động điện lực.

Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động điện lực, Luật Điện lực đã quy định một số trường hợp được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực như sau:

- Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở phát điện để tự sử dụng, không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;

- Tổ chức, cá nhân hoạt động phát điện có công suất lắp đặt dưới mức công suất theo quy định của Bộ Công nghiệp;

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo mua điện với công suất nhỏ hơn 50 kVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp tới khách hàng sử dụng điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo;

- Đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực.

Tuy nhiờn tổ chức, cá nhân được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực phải tuân thủ các quy trình, quy phạm quản lý vận hành, các quy định về giá điện, điều kiện về kỹ thuật, an toàn của Luật điện lực

7. Quyền, nghĩa vụ của đơn vị điện lực và khách hàng sử dụng điện

 Trước đây, có nhiều ý kiến cho rằng trong quan hệ giữa bên mua và bên bán điện thiếu sự bình đẳng, quyền lợi của khách hàng sử dụng điện không được bảo vệ. Luật Điện lực đã có những quy định bảo vệ lợi ích của cả bên mua và bên bán điện, của đơn vị điện lực và khách hàng sử dụng điện bằng các chế định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các đơn vị hoạt động điện lực như đơn vị phát điện, đơn vị truyền tải điện, đơn vị phân phối điện, đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia, đơn vị bán buôn điện, đơn vị bán lẻ điện, đơn vị tư vấn chuyên ngành điện lực và của khách hàng sử dụng điện.

Một trong những nội dung tiến bộ của Luật điện lực được nhiều người quan tâm, ủng hộ là các chế định về bồi thường khi gây thiệt hại cho cả bên mua và bên bán điện. Luật quy định nghĩa vụ của đơn vị bán buôn điện (Điểm c khoản 2 Điều 43) và nghĩa vụ của đơn vị bán lẻ điện (Điểm e khoản 2 Điều 44) phải “Bồi thường khi gây thiệt hại cho cho bên mua hoặc bên bán điện theo quy định của pháp luật”.

Tương ứng với nghĩa vụ của đơn vị điện lực hoạt động bán điện, Luật quy định quyền của bên mua điện là khách hàng sử dụng điện “Được bồi thường thiệt hại do bên bán điện gây ra theo quy định của pháp luật” (Điểm đ khoản 1 Điều 46) và khách hàng sử dụng điện cũng có nghĩa vụ “Bồi thường khi gây thiệt hại cho bên bán điện theo quy định của pháp luật” (Điểm h khoản 2 Điều 46).

8. Bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện

 Luật Điện lực đã quy định trách nhiệm bảo vệ trang thiết bị điện , công trình điện lực và an toàn điện như sau:

- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện.

- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo kịp thời với đơn vị điện lực hoặc cơ quan nhà n­ớc có thẩm quyền khi phát hiện các hiện t­ợng mất an toàn điện, các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện.

- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ trang thiết bị điện, công trình điện lực và an toàn điện.

 Ngoài ra Luật Điện lực còn quy định cụ thể về:

- Trách nhiệm phối hợp thực hiện của tổ chức, cá nhân có liên quan khi xây dựng, cải tạo công trình điện lực và các công trình khác

- Hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp;

- Bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không;

- Bảo vệ an toàn đường cáp điện ngầm;

- Bảo vệ an toàn trạm biến áp;

- An toàn trong phát điện;

- An toàn trong truyền tải, phân phối điện;

- An toàn trong đấu nối vào hệ thống điện quốc gia;

- An toàn trong sử dụng điện cho sản xuất;

- An toàn trong sử dụng điện cho sinh hoạt, dịch vụ;

- Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp.

9. Điện phục vụ nông thôn, miền núi, hải đảo

Ngoài các quy định chung, Luật Điện lực có một chương để quy định về điện phục vụ nông thôn, miền núi, hải đảo, trong đó quy định về chính sách phát triển điện, giá điện và an toàn điện ở nông thôn, miền núi, hải đảo.

Đặc biệt việc đầu tư phát triển điện ở nông thôn, miền núi hải đảo được quy định cụ thể như sau:

- Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho đơn vị điện lực hoạt động tại khu vực mà việc đầu tư­ và hoạt động điện lực không có hiệu quả kinh tế.

- Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư đường dây dẫn điện từ sau công tơ đến nơi sử dụng điện cho các hộ dân thuộc diện chính sách xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo xác nhận của Uỷ ban nhân dân địa phương.

- Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bao gồm:

+ Hỗ trợ về vốn đầu tư;

+ Hỗ trợ về lãi suất vay vốn đầu tư;

+ Ưu đãi về thuế.

- Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, cải tạo, nâng cấp lưới điện ở nông thôn, miền núi, hải đảo.

 Trong đó việc thanh toán tiền điện thuỷ nông được quy định như sau:

- Thời hạn thanh toán đối với điện năng được doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi sử dụng để tưới, tiêu cho lúa, rau, màu, cây công nghiệp trồng xen canh trong vùng lúa, rau, màu do hai bên mua, bán điện thoả thuận nhưng tối đa không quá một trăm hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo thanh toán tiền điện.

- Nhà nước cấp kinh phí thanh toán tiền điện bơm nước chống úng, chống hạn vượt định mức theo quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi.

10. Điều tiết hoạt động điện lực

Một trong những điểm quan trọng của Luật Điện lực là vấn đề điều tiết điện lực. Nội dung điều tiết hoạt động điện lực bao gồm

- Xây dựng các quy định về vận hành thị trường điện lực cạnh tranh và hướng dẫn thực hiện;

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp điều chỉnh quan hệ cung cầu và quản lý quá trình thực hiện cân bằng cung cầu về điện;

- Cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép hoạt động điện lực;

- H­ớng dẫn điều kiện, trình tự, thủ tục ngừng cấp điện, cắt điện hoặc giảm mức tiêu thụ điện, điều kiện, trình tự, thủ tục đấu nối vào hệ thống điện quốc gia;

- Nghiên cứu, xây dựng biểu giá bán lẻ điện và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về giá điện;

- Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về biểu giá bán lẻ điện;

- Quy định khung giá phát điện, giá bán buôn điện, phê duyệt phí truyền tải điện, phân phối điện và các phí khác;

- Theo dõi việc thực hiện kế hoạch và dự án đầu tư phát triển nguồn điện, lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối để bảo đảm phát triển phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực đã được duyệt;

- Xác định tỷ lệ công suất và tỷ lệ điện năng giữa hình thức mua bán thông qua hợp đồng có thời hạn và mua bán giao ngay phù hợp với các cấp độ của thị trường điện lực;

- Kiểm tra việc thực hiện biểu giá điện đã được phê duyệt;

- Giải quyết khiếu nại và tranh chấp trên thị trường điện lực.

Luật điện lực quy định: Cơ quan điều tiết điện lực là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công nghiệp thực hiện các nội dung điều tiết hoạt động điện lực. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tiết điện lực.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT ĐIỆN LỰC

1. Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành

Để Luật Điện lực sớm đi vào cuộc sống, Bộ Công nghiệp đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch chuẩn bị các văn bản hướng dẫn, cụ thể như sau:

    A. Văn bản trình Chính phủ

Quốc hội đã giao cho Chính phủ hướng dẫn một số nội dung trong Luật Điện lực. Các nội dung này sẽ được đưa vào dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Điện lực. Bộ Công nghiệp đã giao nhiệm vụ cho Tổ biên tập Luật Điện lực, Vụ Năng lượng và Dầu khí, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các Cục, Vụ có liên quan tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo Nghị định để trình Chính phủ vào đầu Quý II năm 2005 để Chính phủ xem xét ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005, cùng với thời điểm có hiệu lực của Luật Điện lực.

    B. Văn bản trình Thủ tướng Chính phủ

Quốc hội đã giao Thủ tướng Chính phủ quy định một số nội dung, cụ thể:

    1. Quy định lộ trình, các điều kiện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực (khoản 2 Điều 18)

    2. Quy định cụ thể về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tiết điện lực (khoản 2 Điều 66).

    3. Quyết định chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng (khoản 3 Điều 13)

Ba nội dung này sẽ được thể hiện trong 3 dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Công nghiệp đã giao nhiệm vụ cho Vụ Năng lượng và Dầu khí chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức - Cán bộ, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình, các điều kiện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục điều tiết Điện lực và giao Vụ Khoa học, Công nghệ chủ trì phối hợp với Vụ Năng lượng và Dầu khí, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các Vụ, Cục, Tổng công ty có liên quan xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Ngoài ra, Bộ Công nghiệp đã xác định kế hoạch phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng các văn bản liên tịch hướng dẫn một số nội dung được quy định trong Luật Điện lực và sửa đổi, bổ sung những quy định hiện hành để phù hợp với các quy định của Luật Điện lực.

2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật điện lực cho cán bộ và nhân dân.

Song song với việc soạn thảo để ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật điện lực đồng bộ khi Luật có hiệu lực, Bộ Công nghiệp có chương trình phổ biến Luật điện lực đến từng địa phương, các tổ chức, cá nhân hoạt động và sử dụng điện, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan, đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng tổ chức tập huấn, tuyên truyền phổ biến kịp thời, sâu rộng Luật điện lực đến cán bộ, công chức và toàn thể nhân dân.

TIN MỚI NHẤT
Thăm Dò Dư Luận
Bạn đánh giá website này là ....
Theo bạn, để Website này hoạt động hiệu quả, cần:

 

 vanbanqppl1.gif
 www.danangcity.vn.png
  itqn.gif
  39330416.gif
  logo_csm.png

(C) Bản quyền thuộc UBND huyện Bắc Trà My
     Lượt truy cập thứ:903787